Facebook chat
So sánh sản phẩm
chọn tối đa 4 sản phẩm

Hotline: 0243 556 8686

0243 556 8686

​LICH SỬ BẢO QUẢN LÂM SẢN

Ngày đăng:10:32:47 06-07-2016
LICH SỬ BẢO QUẢN LÂM SẢN
Độ bền của lâm sản trong quá trình sử dụng luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của con người để tìm ra các giải pháp nhằm kéo dài thời gian sử dụng
 
 Ngay từ thời kỳ sơ khai, người Ai Cập đã biết dùng nhựa để bảo vệ gỗ trong công trình xây dựng, tránh cho gỗ không bị mục nát do các sinh vật gây ra. Từ lâu đời, người dân ở một số nước châu Á đã có biện pháp bảo quản rất độc đáo và hiệu quả đó là ngâm gỗ, tre nứa trong bùn ao. Biện pháp này đã trở thành tập quán duy trì cho đến ngày nay.
Tất cả những giải pháp bảo quản lâm sản mang tính tập quán đó không mang lại hiệu quả bảo quản triệt để, bởi nguyên nhân gây nên sự phá huỷ lâm sản chưa được khám phá. Đến khi những phát hiện của Pasteur và Koch chỉ ra rằng các vi sinh vật và côn trùng là những đối tượng sinh vật chủ yếu gây nên sự phá huỷ cấu trúc lâm sản thì định hướng tẩm vào gỗ và lâm sản bằng các hoá chất có tính độc với sinh vật gây hại mới được hình thành.
Việc dùng các sản phẩm hoá học để ngâm tẩm gỗ nhằm kéo dài tuổi thọ mới ra đời cách đây hơn 300 năm.
Năm 1747, Emerson đã đề xuất dùng chế phẩm dạng dầu để bảo quản gỗ, sớm hơn nữa thì Zohann Glauder đã dùng một loại nhựa để quét cho gỗ đã được đốt cháy một lớp mỏng. Đến thế kỷ 19, một loạt sản phẩm hoá chất đã được sử dụng để tẩm gỗ như clorua thuỷ ngân HgCl2 (1805), clorua kẽm ZnCl2 (1815), sun phát đồng CuSO4 (1837); dầu nhựa than đá Creosote (1838)... Trong những thập niên trở lại đây, danh mục các sản phẩm hoá học dùng cho bảo quản lâm sản ngày càng được bổ sung thêm. Song chính trong quá trình phát triển đó, các hoá chất có độc tính cao đối với sức khoẻ con người và môi trường đã dần bị loại bỏ. Các hợp chất tổng hợp bằng con đường hoá học, chiết xuất từ thực vật, từ vi sinh vật có hiệu lực phòng trừ sinh vật gây hại lâm sản cao và an toàn với con người, môi trường sống đã được ưu tiên nghiên cứu và đưa vào sử dụng ngày càng rộng rãi.
Với việc ra đời nhiều loại chế phẩm bảo quản gỗ khác nhau, đòi hỏi phải có các phương pháp ngâm tẩm bảo quản gỗ như phương pháp tẩm cây đứng (Manon 1709); Phương pháp thay thế nhựa (Boucherie); Phương pháp ngâm thường (Kyan 1832, Bunet 1838); Phương pháp tẩm nóng lạnh (Sêley 1867); Phương pháp tẩm áp lực chân không (Brean 1831, Jahn Bethell 1838, Ruping 1902)...
Cùng với sự ra đời phát triển của các lĩnh vực khoa học sinh vật, nhiều loài nấm mốc, côn trùng, hà... phá hại gỗ và lâm sản cũng đã được điều tra, phân loại. Các công trình nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái... đã làm tiền đềcho các nhà hoá học, công nghệ, nghiên cứu mở rộng các chế phẩm bảo quản, các biện pháp kỹ thuật xử lý bảo quản gỗ và lâm sản. Một trong những thành tựu nổi bật về sự kết hợp hữu hiệu này của các nhà nghiên cứu cơ bản và các nhà nghiên cứu kỹ thuật giữa thế kỷ 20 này là nghiên cứu diệt mối gây hại lâm sản trong các công trình xây dựng bằng phương pháp lây truyền để diệt mối tận tổ. Từ việc phát hiện ra đặc tính của mối: chúng mớm thức ăn cho nhau, liếm lẫn nhau, một số nhà khoa học của ấn Độ, Inđônexia đã nghĩ đến biện pháp dùng các chất hoá học xử lý lên con mối, nhờ đặc tính sinh học nói trên, mối sẽ truyền chất độc về tận tổ, tận hoàng cung của mối chúa. Feytand (1949) cho biết cụ thể thêm rằng các hợp chất có gốc là asenic hoặc fluo ở dạng bột mịn có thể dùng làm thuốc để gây cho mối chết bằng cách lây truyền.
Tuy nhiên, những phát hiện đó mới có thể chỉ dừng lại ở ý tưởng, đến năm 1958, Lý Thuỷ Mỹ ở Quảng Đông Trung Quốc đã tiến thêm một bước có ý nghĩa thực tiễn hơn. Ông đã dùng hỗn hợp hoá chất dạng bột mà thành phần chủ yếu là asenic (As2O3) chiếm 80%, phát hiện các tổ mối chính, phun thuốc trên đỉnh tổ mối sẽ chết cả tổ, ông đã đào 600 tổ để kiểm tra hiệu quả diệt mối. Tuy vậy, giải pháp này còn nhiều hạn chế, việc tìm tổ chính chỉ có thể thực hiện được ở nhà cấp 4 hoặc nhà tre gỗ nền đất với những người có nhiều kinh nghiệm, đối với nhà bê tông cao tầng không thể phát hiện được tổ mối chính bằng kinh nghiệm. Về mặt lý luận chưa lý giải được quá trình diễn biến của việc lây nhiễm cả hệ thống tổ mối. ở châu âu và ở Mỹ, nhà cao tầng bị mối người ta xử lý bằng cách bịt kín công trình bằng bạt rồi xông hơi độc, nền thì khoan và xử lý hoá chất, tạo cho công trình cách ly đất nền bằng một thảm hoá chất. Phương pháp này có hiệu quả song rất phiền phức và tốn kém.
Ở Việt Nam, từ lâu đời, nhân dân ta đã biết bảo quản tre, gỗ, bằng cách ngâm xuống ao bùn, gác lên gác bếp... từ đó đúc rút kinh nghiệm qua nhiều đời nhiều thế hệ và đã khẳng định " muốn làm nhà cho mình và cho cả con cháu thì phải ngâm gỗ thật kỹ, thật chín", thời gian ngâm ít nhất là một năm. Đây là những kinh nghiệm quý giá mà hiện nay vẫn còn phát huy giá trị và được áp dụng để bảo quản các sản phẩm lâm sản ở các vùng thôn quê. Hiện nay, qua kiểm nghiệm, chúng ta đã lý giải được tre gỗ được ngâm dưới ao tù có tác dụng làm cho các chất dinh dưỡng như tinh bột, đường... bị phân huỷ, các chất còn lại chủ yếu là xenlulo, hemixenlulo, linhin. Vì vậy, tre gỗ đã ngâm nước hoặc ngâm trong bùn có tác dụng phòng mọt, xén tóc song vẫn có thể bị mối xông hoặc bị nấm mục gây hại nếu sử dụng ngoài trời hoặc tiếp xúc với đất ẩm bởi nguồn thức ăn của mối, nấm mục lại là xenlulo.
Công tác nghiên cứu khoa học về bảo quản gỗ ở nước ta được khởi đầu bằng một số công trình nghiên cứu điều tra định loại một số sinh vật hại gỗ vào đầu thế kỷ 20 của một số nhà khoa học nước ngoài.
Nhưng phải đến cuối những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ 20, công tác nghiên cứu và biện pháp áp dụng các tiến bộ kỹ thuật bảo quản gỗ bằng hoá chất mới thực sự được triển khai rộng và tương đối đồng bộ. Nhà nước đã có Nghị định số 10/CP (1960) qui định phải bảo quản gỗ. Khởi đầu của giai đoạn này là việc ra đời một xí nghiệp ngâm tẩm gỗ tà vẹt bằng Creosote theo phương pháp tẩm áp lực - chân không. Sau đó, ở một số cơ sở chế biến sử dụng gỗ đã bắt đầu áp dụng với các phương pháp tẩm nóng lạnh, phun quét, ngâm thường. Công tác nghiên cứu, thăm dò cũng đã được triển khai như xác định sức thấm chế phẩm bảo quản của một số loại gỗ Việt Nam, xác định khả năng chống hà phá gỗ tàu thuyền với một số chế phẩm bảo quản của Bộ môn gỗ khoa Lâm học, tiền thân của Trường đại học Lâm nghiệp hiện nay, thí nghiệm về phòng trừ con hà hại gỗ của Viện kỹ thuật giao thông bưu điện... Đáng tiếc là nhiều kết quả nghiên cứu thăm dò khảo sát đã không được công bố.
Từ đầu những năm 1960 trở đi, công tác nghiên cứu về kỹ thuật bảo quản gỗ và những vấn đề khoa học có liên quan, được triển khai có hệ thống tại phòng Bảo quản gỗ Viện nghiên cứu Lâm nghiệp dưới sự hướng dẫn và lãnh đạo trực tiếp của cố kỹ sư Nguyễn Thế Viễn- Việt kiều từ Pháp trở về, là một trong những chuyên gia bảo quản gỗ đầu tiên ở nước ta. Cũng vào thời gian này, một số chuyên gia bảo quản gỗ của Đông Đức đã đến Việt Nam giúp đào tạo công nhân kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật bảo quản gỗ, triển khai thử về bảo quản gỗ ở một số cơ sở sản xuất.
Mặc dù lĩnh vực bảo quản lâm sản ở nước ta ra đời chậm hơn nhiều so với các nước Âu - Mỹ, song từ đó đến nay chúng ta đã tiếp thu và áp dụng có kết quả một số tiến bộ kỹ thuật bảo quản gỗ của các nước vào điều kiện cụ thể của nước ta. Các hướng nghiên cứu của lĩnh vực bảo quản lâm sản gồm: Nghiên cứu cơ bản về sinh vật gây hại lâm sản và các phương pháp phòng trừ, nghiên cứu về kỹ thuật ngâm tẩm bảo quản lâm sản, nghiên cứu đề xuất các loại chế phẩm bảo quản lâm sản đã được tiến hành tương đối đồng bộ và các kết quả nghiên cứu đã nhanh chóng được chuyển giao vào sản xuất mang lại lợi ích kinh tế - xã hội to lớn.
- Nghiên cứu về sinh vật hại lâm sản: Hệ sinh vật hại lâm sản ở Việt Nam hết sức đa dạng, do đó để hạn chế những thiệt hại về lâm sản sau khai thác, có nhiều công trình nghiên cứu của Nguyễn Đức Khảm, Lê Văn Nông, Lê Văn Lâm đã điều tra, phân loại, đặc tính sinh học của côn trùng và nấm gây hại lâm sản chủ yếu. Với kết quả nghiên cứu đạt được, đã xây dựng được khu hệ mối ở Việt Nam; Danh lục xén tóc, mọt phá hoại tre, gỗ Việt Nam; Đặc điểm sinh thái sinh học của các loài đại diện điển hình trong các nhóm sinh vật hại lâm sản nêu trên. Những kết quả nghiên cứu về sinh vật gây hại lâm sản đã đặt ra cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trừ và các quy trình kỹ thuật bảo quản lâm sản.
Trong các côn trùng hại lâm sản, mối được đánh giá là đối tượng gây hại mãnh liệt nhất ở nước ta đối với nhà cửa, kho tàng, đê đập và cây trồng. Do đó, đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu các giải pháp để phòng, diệt mối. Năm 1963, trước yêu cầu cấp bách phải xử lý mối cho các trụ sở của cơ quan Nhà nước, Nguyễn Thế Viễn và các học trò đã vận dụng các phương pháp diệt mối của nước ngoài bằng cách đào hố nhử ở ngoài công trình, nếu có mối vào thì dùng DDT, thuốc nước hoặc hun hơi để diệt. Cách làm đó đã hạn chế được phần nào sự xâm nhập của mối vào công trình, song không đạt hiệu quả với các tổ mối hình thành ngay trong công trình xây dựng. Từ năm 1965 đến năm 1967, đề tài nghiên cứu kỹ thuật diệt mối gây hại công trình kiến trúc do Nguyễn Chí Thanh chủ trì đạt kết quả tốt đẹp. Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả đã đi sâu nghiên cứu kỹ thuật diệt mối theo nguyên lý lây nhiễm và chế phẩm diệt mối lây nhiễm TM67 đã được đề xuất, đồng thời làm rõ cơ chế gây chết lây nhiễm cho toàn bộ tổ mối. Hiệu quả của phương pháp lây nhiễm là diệt được hệ thống tổ phụ và tổ chính của mối mà không phải tìm tổ. Kết quả nghiên cứu đã được thực tiễn tiếp nhận. Đến nay hàng vạn công trình xây dựng như: bệnh viện, trường học, cơ quan, kho tàng, khách sạn... đã được bảo vệ khỏi mối phá hoại. Về mặt khoa học, có thể tự hào đây là công trình diệt mối thành công, độc đáo của Việt Nam và khu vực.
- Nghiên cứu về kỹ thuật ngâm tẩm bảo quản lâm sản: Đã khảo sát được độ bền tự nhiên và sức thấm chế phẩm bảo quản của một số loại gỗ rừng tự nhiên. Các kết quả đạt được đã là cơ sở cho việc phân nhóm gỗ ngâm tẩm, xây dựng các quy trình ngâm tẩm bảo quản lâm sản cụ thể như: Quy trình bảo quản gỗ khúc từ rừng; gỗ tròn xuất khẩu; gỗ xẻ; gỗ đồ mộc; ván sàn; gỗ bóc lạng; gỗ xẻ xây dựng; bảo quản gỗ đóng tàu thuyền, chống hà cho tàu thuyền đi biển bằng gỗ; bảo quản gỗ làm trụ mỏ; tà vẹt; xà điện; bảo quản tre dùng trong xây dựng; chống mốc cho song mây làm hàng thủ công mỹ nghệ;... Kết quả qua tác động bảo quản đã kéo dài tuổi thọ cho tre, gỗ gấp từ 6 đến 10 lần tuổi thọ so với đối chứng.
Giai đoạn từ năm 1995 trở lại đây, cơ cấu rừng của Việt Nam có sự thay đổi lớn. Với chủ trương bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên hiện có, đồng thời đẩy mạnh trồng rừng với các loài cây mọc nhanh thông qua chương trình “5 triệu hecta rừng”. Nguồn nguyên liệu tre, gỗ rừng trồng đang dần chiếm một tỷ lệ cao phục vụ cho các nhu cầu sử dụng gỗ. Đặc điểm chung của hầu hết các loại gỗ mọc nhanh rừng trồng là có độ bền tự nhiên chống chịu sự phá hoại của sâu nấm kém. Vì vậy, các đề tài nghiên cứu bảo quản gỗ rừng trồng đã được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Lâm nghiệp thực hiện giải quyết các vấn đề là nhu cầu bức xúc của thực tế sản xuất.
- Nghiên cứu chế phẩm bảo quản lâm sản: Trên cơ sở tham khảo các công thức chế phẩm bảo quản lâm sản của các nước trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo nghiệm hiệu lực các chế phẩm bảo quản của nước ngoài và cải tiến thay đổi tỷ lệ thành phần của chế phẩm cho đảm bảo hiệu lực phòng chống sinh vật gây hại lâm sản trong điều kiện đặc thù của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu đã nhanh chóng được chuyển giao vào sản xuất, tạo thế chủ động về chế phẩm bảo quản lâm sản phục vụ cho các nhu cầu sử dụng. Các loại chế phẩm bảo quản là kết quả nghiên cứu đã được chuyển giao cho sản xuất trong nước bao gồm: BQG1, LN1, LN2, LN3, LN5, ASCU - T, PBB, PCC, Belit, Forolit, CHG, sơn chống hà M1; TM67, DM90, PMĐ-4, PMC...
Hiện nay, công tác nghiên cứu về chế phẩm bảo quản lâm sản đang tiếp tục được triển khai theo hướng loại bỏ các thành phần hoá chất độc, sử dụng các hoạt chất nguồn gốc từ thực vật và vi sinh vật. Các chế phẩm đã được sử dụng theo hướng nghiên cứu này trong những năm gần đây gồm có: Chế phẩm sinh học diệt mối lây nhiễm DIMEZ (từ vi nấm Metarhizium), chế phẩm diệt mối lây nhiễm có nguồn gốc hoá học, chế phẩm bảo quản lâm sản từ dầu vỏ hạt điều...
 
Tags:

Hỗ trợ tuyến